Ngày 30/06/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 252/2026/NĐ-CP (“Nghị định 252”) quy định chi tiết và biện pháp tổ chức thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026. Đây là văn bản hợp nhất, thay thế đồng thời năm nghị định đã ban hành trước đó, gồm Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, Nghị định số 91/2022/NĐ-CP, Nghị định số 49/2025/NĐ-CP, Nghị định số 117/2025/NĐ-CP và Nghị định số 373/2025/NĐ-CP; riêng Nghị định số 125/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản thay thế.
Với kết cấu gồm 7 Chương và 76 Điều, Nghị định 252 đặt nền tảng pháp lý cho việc chuyển đổi mô hình quản lý thuế theo hướng dựa trên dữ liệu, đánh giá rủi ro và mức độ tuân thủ của người nộp thuế, đồng thời siết chặt các công cụ cưỡng chế nợ thuế và mở rộng phạm vi hợp tác quản lý thuế quốc tế. Dưới đây là những nội dung mà doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty nước ngoài tại Việt Nam – cần lưu ý để kịp thời rà soát hệ thống quản trị tuân thủ thuế nội bộ.
1. Chuyển đổi quản lý thuế theo mức độ rủi ro và tuân thủ
- Cơ quan quản lý thuế phân loại người nộp thuế theo mức độ rủi ro và mức độ tuân thủ pháp luật thuế, dựa trên lịch sử tuân thủ (đăng ký, kê khai, nộp thuế, tình trạng nợ thuế, kết quả thanh tra, kiểm tra) và các dấu hiệu rủi ro phát sinh trong quá trình vận hành (sử dụng hóa đơn điện tử, hoàn thuế, miễn giảm thuế…), làm căn cứ áp dụng biện pháp quản lý phù hợp với từng nhóm đối tượng. Các tiêu chí phân loại cụ thể hơn theo ngành nghề, quy mô hoạt động, cơ cấu sở hữu và mức đóng góp ngân sách dự kiến được cụ thể hóa tại Thông tư số 89/2026/TT-BTC hướng dẫn thi hành
- Nghị định lần đầu chính thức hóa cơ chế “người nộp thuế được ưu tiên” dành cho nhóm được đánh giá tuân thủ tốt, rủi ro thấp, theo hướng đơn giản hóa quy trình xử lý hồ sơ và tăng cường hỗ trợ từ cơ quan thuế. Các quy trình, tiêu chí đánh giá chi tiết sẽ tiếp tục được cụ thể hóa tại văn bản hướng dẫn thi hành.
2. Công khai thông tin người nộp thuế và cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
- Công khai tự động theo định kỳ: hệ thống quản lý thuế tự động công khai hằng tháng trên trang thông tin điện tử của cơ quan thuế đối với người nộp thuế có số tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp.
- Không giải trình rủi ro hóa đơn điện tử: người nộp thuế không thực hiện yêu cầu giải trình của cơ quan thuế đối với cảnh báo rủi ro hóa đơn điện tử sẽ bị công khai thông tin bắt buộc.
- Việc công khai thông tin cũng được áp dụng đối với các trường hợp trốn thuế, vi phạm pháp luật về thuế ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế.
- Giới hạn phạm vi công khai: thông tin được công khai giới hạn ở mã số thuế, tên người nộp thuế, địa chỉ và lý do công khai; đối với cá nhân, số định danh cá nhân chỉ được hiển thị 4 chữ số cuối, các chữ số còn lại phải được che hoặc mã hóa – đây là điểm mới đáng ghi nhận về bảo vệ dữ liệu cá nhân so với các quy định trước đây.
3. Thời hạn khai, nộp thuế và khai bổ sung hồ sơ khai thuế
- Thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý phải được nộp chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của quý tiếp theo.
- Đối với cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân với cơ quan thuế, thời hạn nộp hồ sơ quyết toán là ngày cuối cùng của tháng thứ tư kể từ ngày kết thúc năm dương lịch (tương ứng ngày 30/4 đối với năm tài chính trùng năm dương lịch) hoặc kể từ ngày kết thúc kỳ tính thuế 12 tháng liên tục, tùy theo trường hợp áp dụng.
- Người nộp thuế chỉ được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn 05 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót.
- Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kết luận người bán sử dụng hóa đơn không hợp pháp hoặc sử dụng hóa đơn trái quy định, người mua vẫn phải khai bổ sung để điều chỉnh nghĩa vụ thuế liên quan đến hóa đơn đó, kể cả đối với kỳ tính thuế đã được thanh tra hoặc kiểm tra trước đây. Quy định này đặt thêm trách nhiệm rà soát tính hợp pháp của hóa đơn đầu vào lên bên mua, ngay cả sau khi hồ sơ đã được quyết toán.
4. Quản lý thuế đối với thương mại điện tử và nhà cung cấp nước ngoài
- Nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua nền tảng thương mại điện tử thực hiện đăng ký giao dịch thuế điện tử đồng thời với đăng ký thuế lần đầu, và được áp dụng cơ chế kê khai theo tháng hoặc theo từng lần phát sinh tùy thuộc tính chất hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên.
- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán trực tuyến có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh từ giao dịch của nhà cung cấp nước ngoài, tại thời điểm giao dịch được xác nhận và thanh toán được chấp nhận.
- Để tránh khấu trừ trùng trên cùng một giao dịch, tổ chức tại Việt Nam đã khấu trừ, nộp thay thuế cho nhà cung cấp nước ngoài hoặc cá nhân không cư trú phải thông báo cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử.
- Cá nhân không cư trú kinh doanh trên nền tảng không có chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến vẫn phải tự đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế theo từng lần phát sinh.
5. Mở rộng và làm rõ điều kiện áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh
- Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh có nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên, quá hạn trên 120 ngày và đang bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế có thể bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
- Đối với doanh nghiệp, ngưỡng áp dụng là 500 triệu đồng trở lên, quá hạn trên 120 ngày; biện pháp này áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp bị thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nhưng không thực hiện thủ tục khôi phục tình trạng hoạt động hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong thời hạn 120 ngày cũng có thể khiến người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu hưởng lợi bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh; việc đăng ký thuế cho doanh nghiệp mới của những cá nhân này chỉ được thực hiện sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ khai, nộp thuế còn tồn đọng.
- Cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo trước cho người nộp thuế trong một khoảng thời gian nhất định trước khi chính thức áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh; biện pháp này được hủy bỏ khi số nợ thuế còn lại giảm xuống dưới ngưỡng áp dụng, không nhất thiết phải thanh toán toàn bộ số nợ.
Nhìn chung, Nghị định 252/2026/NĐ-CP đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý thuế tại Việt Nam: từ mô hình quản lý theo hồ sơ, thủ tục hành chính sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu, đánh giá rủi ro và mức độ tuân thủ thực chất của từng người nộp thuế. Song song với việc mở ra các cơ chế thuận lợi hơn cho nhóm tuân thủ tốt, Nghị định cũng siết chặt đáng kể các công cụ giám sát, công khai thông tin và cưỡng chế nợ thuế, đồng thời nâng cao mức độ minh bạch đối với các cấu trúc đầu tư nước ngoài thông qua nghĩa vụ kê khai chủ sở hữu hưởng lợi và việc mở rộng hợp tác trao đổi thông tin thuế quốc tế.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty nước ngoài và các đơn vị có giao dịch xuyên biên giới, không nên chờ đến khi phát sinh vướng mắc với cơ quan thuế mới tiến hành rà soát. Việc chủ động cập nhật quy trình quản trị tuân thủ nội bộ ngay từ thời điểm Nghị định có hiệu lực sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro bị công khai thông tin, tạm hoãn xuất cảnh hay truy thu về sau, đồng thời tận dụng tốt hơn các cơ chế thuận lợi mà Nghị định dành riêng cho nhóm người nộp thuế tuân thủ tốt.
